Monday, October 31, 2011

* Diễn Biến Đồng Mỹ Kim Trong Canh Bạc Thế Giới

TS.LS. Lưu Nguyễn Đạt

1. Đồng Mỹ Kim Tiền Tệ Quốc Tế
Ngay trong khi bùng nổ Đệ Nhị Thế Chiến, vào mấy tuần đầu tháng Bảy năm 1944, đại diện của 44 quốc gia đồng minh nhóm họp tại Mount Washington Hotel, Bretton Woods, New Hampshire, Hoa Kỳ, để thảo luận và ký kết Thoả Ước Bretton Woods, [1] với những chi tiết sau đây:
  • Thành lập Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế [International Monetary Fund/IMF] và Ngân Hàng Quốc Tế Tái Thiết và Phát Triển [International Bank for Reconstruction and Development/IBRD] nay trở thành một phân bộ của Ngân Hàng Thế Giới [the World Bank Group].
  • Quy định Mỹ kim là tiền tệ quốc tế trong chính sách coi tiền tệ này là đơn vị căn bản cho tỷ lệ hối đoái giữa các quốc gia đồng minh đem so sánh với đồng Mỹ Kim trong mọi sinh hoạt tài chính, đồng thời cho phép Quỹ IMF bù tiền cho quốc gia nào tạm thời khiếm hụt tài chính.
  • Trong giai đoạn này, Mỹ kim dựa trên sự bảo chứng của vàng, với ý nghĩa là bất cứ ai cầm Mỹ kim đến ngân hàng Hoa Kỳ đều có quyền yêu cầu ngân hàng trả lại họ trị giá hiện kim bằng vàng.
  • Vậy, căn cứ vào Thoả Ước Bretton Woods, tiền Mỹ kim có giá trị như vàng [“good as gold”] và trong những năm tiếp cận, để ổn định tình hình kinh tế tài chính thời Thế Chiến, một lượng [ounce/oz] vàng trị giá đúng 35 Mỹ kim [thay vì trên dưới 1,500 Mỹ kim trong năm 2011].

2. Đồng Mỹ Kim Pháp Định [Fiat Currency]
  • Tới ngày 15 tháng Tám năm 1971, Tổng Thống Richard Nixon quyết định chấm dứt chế độ kim bản vị của đồng Mỹ kim [chuyển hoán ra vàng] và từ đó, Mỹ Kim trở thành tiện tệ pháp định [Fiat currency],[2] mà giá trị được ấn định bằng luật pháp hay sắc luật, căn cứ vào nhu cầu của hệ thống tài chính và ngân khố quốc gia. Kể từ giai đoạn này, đồng Euro và các tiền tệ khác trên thế giới lần lượt trở thành tiền pháp định hay “fiat currencies”.
  • Dù Hoa Thịnh Đốn [Chính Phủ Liên Bang Hoa Kỳ] có lúc e ngại số cầu về tiền Mỹ kim sẽ giảm vì tiền tệ này không còn dựa trên sự bảo chứng của vàng [kim bản vị], nhưng thực tế đã cho thấy đồng Mỹ kim “giấy” vẫn được tin cậy. Thật thế, giá trị của đồng Mỹ kim, nay dựa trên tín dụng, vẫn giữ giá cao nhờ có sự tin nhiệm của công chúng và sự khan hiếm của tiền tệ đó. Khi có nhu cầu tiêu thụ hay dự trữ, giá tiện tệ liên hệ sẽ gia tăng.
  • Ngoài ra, giá trị thực sự của tiện tệ lưu hành vẫn có thể tính được theo tỷ lệ giữa tổng số nợ toàn quốc trên tổng lượng sản phẩm và dịch vụ toàn quốc (Debt-to-GDP ratio). Theo tài liệu của Tình Báo Hoa Kỳ, tỷ lệ đó trong năm 2010 là 53.5%.[3]
3. Hệ Thống “Petrodollar “ Liên Kết với Mỹ Kim Trở Thành Trữ Kim Quốc Tế [International Reserve Currency]
Hệ thống dầu thô lượng giá bằng Mỹ kim [Petrodollar system] là diệu kế của chính thể Nixon-Kissinger về mặt kinh tế và ngoại giao.[4] Để đẩy mạnh số cầu Mỹ kim, Hoa Thịnh Đốn yêu cầu Saudi Arabia và sau đó các quốc gia sản xuất dầu thô thuộc Tổ chức OPEC[5] lượng giá dầu bằng Mỹ kim. Các thành viên OPEC còn có cơ hội dùng số tiền thu nhập để đầu tư vào việc mua công khố phiếu của Hoa Kỳ. Ngược lại, Hoa Kỳ sẽ trợ giúp kỹ thuật và bảo đảm an ninh cho các quốc gia này.
Cái lợi của Hoa Kỳ là, qua hệ thống “petrodollar”, các quốc gia tiêu thụ dầu thô trên thế giới phải mua Mỹ kim làm trữ kim để trả tiền dầu mua của các quốc gia thuộc Tổ chức OPEC. Dầu thô và Mỹ kim trở thành nhu cầu quốc tế mà các quốc gia tiêu thụ phải chấp nhận vì không có cách lựa chọn nào khác.
Chúng ta đã thấy tiền Mỹ kim được “quốc tế hoá” qua Thoả Ước Bretton Woods, năm 1944. Và từ thập niên 1970 tiền Mỹ kim trở thành trữ kim quốc tế qua hệ thống “petrodollar”, nhờ đó làm tăng giá trị hối đoái của đồng Mỹ kim.
Quan trọng hơn cả, khi Mỹ kim trở thành trữ kim quốc tế, Hoa Kỳ chiếm đoạt được cái thế độc nhất:
  • thao túng in tiền tệ một cách rộng rãi để trả nợ, thanh toán các chi phí căn bản như mua dầu thô và tài trợ cho các dự án phát triển, kỹ thuật, quân sự;
  • mà không cần ấn định giới hạn;
  • miễn các quốc gia trong hệ thống mậu dịch nhu yếu phẩm vẫn tín nhiệm;
  • và chưa có ai cạnh tranh về mặt hối đoái quốc tế.
Cần nhấn mạnh rằng hệ thống “petrodollar” liên kết với Mỹ kim trong thế trữ kim quốc tế cần phải đi song song với chế độ bất quy định tiền tệ [currency deregulation] [6] khiến hối đoái thả nổi trong các mậu dịch quốc tế có trao đổi ngoại tệ. Cả ba khía cạnh kinh tế tài chính này đã tạo dựng hiện tượng “Dollar Hegemony” [“Mỹ kim bá chủ”] [7] song song với thế lực bá chủ quân sự của Hoa Kỳ trên thế giới cuối thé kỷ 20.
4. Sự Lung Lay của Hệ Thống “Petrodollar “ và Tình Trạng Bất Trắc của Trữ Kim Quốc Tế
Ngay trong năm 2000, Saddam Hussein đã trở cờ, tuyên bố bải bỏ hệ thông “petrodollar” để thay thế cách lượng giá dầu thô của Iraq bằng tiền Euro. Có lẽ đó là lý do chính hay giọt nước [tiền tệ] cuối cùng khiến Tổng Thống George W. Bush xua quân đánh chiếm Iraq trong năm 2003. Ngay sau đó, số lượng dâu thô sản xuất từ Iraq đã giã từ hệ thống “petro-Euro” để về lại hệ thống “petrodollar” như cũ.[8].
Ngoài ra, kể từ năm 2005, các quốc gia không mấy thân thiện với Hoa Kỳ như Iran, Venezuela, Syria và Bắc Cao Ly đã liên tiếp doạ
dẫm và tìm cách ra khỏi hệ thông “petrodollar” trên. Có lẽ những cuộc “nổi dậy” tại Trung Đông [Arab Spring--trong nội dung này có nghĩa là "Nổi Dậy...", xin đừng quen tay dịch là “Mùa uân Ả Rập” SIC!] có phần nào liên quan tới phản ứng bất trắc của hệ thống “petrodollar” từ đầu thế kỷ 21… Libya và Syria là hai ngọn lửa dầu thô đang bùng cháy, làm sáng tỏ canh bài tiền tệ thế giới này.
photoRiêng đối với Libya, Gaddafi bị truất phế, không những ông ta là một bạo chúa phản dân, hại nước, ông ta còn là một kẻ đối nghịch trơ tráo, lì lợm của Hoa Kỳ khi mưu toan nhóm họp các lãnh tụ Phi Châu, Hồi giáo để dự thảo về việc đề nghị sử dụng loại tiền tệ bản vị vàng [Gold Dinar Coins] để làm trữ kim đổi lấy dầu thô. Hành động như vậy sẽ làm thiệt hại tới hệ thống “petrodollar” và khi dân chúng nổi dậy tại Libya, qua sự lây biến của cách mạng hoa nhài, tức khắc NATO và Hoà Kỳ ra tay oanh kích chế độ Gaddafi, tiếp viện đội quân ly khai và bảo vệ dân chúng nổi dậy. Thâm tâm Hoa Kỳ vẫn là nhằm bảo vệ hệ thống “petrodollar” đang gặp nguy biến trên bãi sa mạc Libya. Chắc chắn dự án tiền đồng “Gold Dinar Coins” đã tung toé theo chân tỵ nạn của bại “thượng tá” Colonel Gaddafi, và như vậy sẽ không có cơ hội phá quấy hệ thống “petrodollar”, dù hệ thống tiền tệ này đang sứt mẻ vì phải va chạm với thời cuộc tráo trở. [9]
Trung Hoa nếu không biết điều cũng có thể bị cháy lây trong cơn lửa tiền tệ và nhu yếu phẩm mỗi lúc mỗi gay go. Dù sao chăng nữa, kể từ năm 2010, nước Nga đã lộ liễu “trả đũa” Hoa Kỳ bằng cách bán dầu cặn cho Trung Quốc mà đổi lấy tiền Nga kim [rubles]. [10]


5. Xác Định và Phân Loại Trữ Kim Trong Canh Bạc Tài Chính Mậu Dịch Quốc Tế
Một số kinh tế gia cho rằng thông thường thì chỉ có một loại tiền tệ duy nhất được dùng thành tiền tệ dự trữ quốc tế [international reserve currency] căn cứ vào sự hữu ích của thế liên kết ngoại vận [network externalities] [11] — càng đông người dùng càng tốt [như điện thoại, điện thư, điện báo và các mạng lưới liên kết xã hội (Online social networks)]. Hiệu lực của thế liên kết ngoại vận xuất phát từ [a] sự thông dụng thực tế, [b] giá trị nội tại, cập nhật của phương tiện/công cụ dịch vụ, [c] và sự tín nhiệm, ưa chuộng của người sử dụng.
Dù muốn, dù không, đa số các quốc gia trên thế giới tới giờ phút này vẫn ưa chuộng, tin cậy vào thực chất ổn định, thông dụng của Mỹ kim và Công khố phiếu Hoa Kỳ.


Bản tường trình của Bộ Ngân Khố/Tài Chính Hoa Kỳ trong năm 2008 dẫn thượng và sơ đồ liên hệ cho thấy đồng Mỹ kim dùng làm trữ kim quốc tế đã bắt đầu suy thoái, nhất là trong thập niên cuối của thế kỷ 20 . Tuy nhiên cho tới năm 2009, đồng Mỹ kim vẫn giữ mức độ từ 60% tới 70% tổng số tiền tệ dự trữ tại các ngân hàng trung ương quốc tế, trong khi đồng Euro thì ở mức từ 20% tới 30%, còn Anh kim [Sterling] và Nhật kim [Yen] chỉ giành được vài phần trăm trong quỹ dự trữ quốc tế.
5.1. Như đã trình bầy trước đây, đồng Mỹ kim đã trở thành tiền tệ bá chủ [Dollar hegemony] nhờ vào cái thế lịch sử tiền tệ quốc tế do Thoả Ước Bretton Woods và cái thế ngoại giao quân sự của hệ thống “petro dollar”. Ngoài ra, về mặt kỹ thuật tài chính, muốn thực hiện và duy trì ưu thế cao của tiền tệ dự trữ quốc tế, đồng Mỹ kim phải hội đủ một số tiêu chuẩn cần và đủ như sau:
  • tầm cỡ khối kinh tế trong nước khả quan;
  • mức quan trọng của mậu dịch quốc tế;
  • tầm cỡ, chiều sâu và mức độ cởi mở, trong sáng của khối tài chính;
  • khả năng chuyển hoán của tiền tệ;
  • mức độ ổn định của tiền tệ;
  • luật lệ quốc nội và chính sách tiền tệ minh bạch.
Đặc biệt Nhật Bản, Trung Hoa, và cả Việt Nam, vì đã dự trữ nhiều Mỹ kim và Ngân Khố phiếu của Hoa Kỳ, hoặc kết cọc tiền tệ của họ [peg currency] vào đồng Mỹ kim, nên vì quyền lợi chung, các quốc gia này vẫn phải giữ số tiền tệ dự trữ hay kết cọc bằng Mỹ kim ở mức độ cần thiết để khỏi mất giá tiển tệ đầu tư liên hệ.
5.2. Tiền Euro là trữ kim quốc tế mạnh thứ nhì nhờ vào tầm cỡ kinh tế của cả khu Âu [Eurozone] và khả năng chuyển hoán của thị trường Châu Âu cũng ngang với thị trường Hoa Kỳ. Cần nhắc thêm là đồng Euro ra mắt công chúng ngày 1 January 1999 đã đúc kết thế lực của hai loại tiền tệ dẫn đầu tại Châu Âu lúc đó là Đồng Deutsche Mark của Đức và đồng Franc của Pháp. Nền kinh tế thịnh vượng của nước Đức thống nhất đem thêm bảo đảm cho đồng Euro ngày nay.
Nếu Denmark & Nước Anh [UK] gia nhập thêm vào khu Eurozone thì đồng Euro sẽ thịnh vượng hơn, có triển vọng cạnh tranh ngang ngửa với đồng Mỹ kim.
Tuy nhiên, lý do khiến đồng Euro vẫn không vươn lên cao như sự mong muốn của khu Eurozone là vì đồng Euro vẫn chưa đủ tin cậy [confidence and credibility], khi các quốc gia thành viên Châu Âu thuộc nhóm PIIGS [Portugal, Italy, Ireland, Greece & Spain] mấp mé phá sản.[12]
5.3. Còn Nước Nga, khi bán dầu cặn và các hàng hoá khác cho các quốc gia thuộc khu vực Châu Âu cũng định giá các nhu yếu phẩm đó bằng đồng Euro, để tách khỏi hệ thống “petrodollar” và thế lực của đồng Mỹ kim. Nhưng khi cung cấp dầu cho Trung Hoa thì lại tính thành Nga kim [rubles] như đã trình bầy trước đây.
Chắc cũng cần nói thêm là Trung Hoa, Nga, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Venezuela gần đây đã quyết định thanh toán ngân khỏan mậu dịch và đâu tư lẫn nhau bằng tiền tệ riêng của họ, ít ra trong lúc lâm thời cũng hạn chế việc sử dụng trữ kim quốc tế và gián tiếp giảm bớt áp lực bá chủ của đồng Mỹ kim.
5.4. Vậy những loại tiền tệ như Anh kim, Nhật kim [Yen], Đồng Franc suisse [Thụy sĩ], Úc kim v.v. chỉ là những thứ tiền tệ biên tế, không mấy đáng kể trong sinh hoạt dự trự hối đoái. Tuy nhiên, đồng CAD [Canadian dollar -- tiền Gia Nã Đại] tuy cỡ nhỏ, những vẫn được coi là loại tiền tệ mẫu mực [benchmark currency], ổn định, dễ chuyển hoán và khá thông dụng tại khu hải đảo Caribbean, Nam và Trung Mỹ.
5.5. Còn một loại tiền tệ dự trữ quốc tế nữa đáng để ý tới là thứ tiền giấy do Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF sáng tạo, gọi là Special Drawing Rights [SDR], mà giá trị lược định [valuation] được chiết tính hằng ngày bằng cách ghép tỷ lệ hối đoái tổng hợp của các đồng Mỹ kim, Euro, Nhật kim [Yen] và Anh kim [Sterling].
Trung Quốc ủng hộ tiền SDR và hứa sẽ mua loại tiền tệ này để hưởng thêm quyền quản trị tại Quỹ IMF.
Đặc biệt là trong tháng February 2011, IMF, dưới quyền điều hành của Giám Đốc Dominique Strauss-Kahn [DSK], đã chính thức đưa thông cáo đề nghị dùng SDR làm loại trữ kim quốc tế mới để ổn định vận mệnh mậu dịch thế giới. Thông cáo của IMF rõ rệt nhằm lật đổ chế độ “petrodollar” lẫn thế bá chủ của đồng Mỹ kim trên thế giới. Ngoài ra IMF còn sáng chế một loại phiếu nợ [bond] tính thành SDR, nhằm hạ bệ luôn công khố phiếu Hoa Kỳ.
Hậu qua gần như trực tiếp và rõ rệt của cuộc khai chiến tiền tệ này là áp lực tống xuất Dominique Strauss-Kahn ra khỏi vị trí Giám Đốc IMF. Câu chuyện cưỡng bức dục vọng [sex attack] và toan hiếp dâm [attempted rape] nữ nhân viên hầu phòng khách sạn Manhattan tại New York chỉ là cái cớ pháp lý bề nổi để băng hoạ tên “dâm đãng” DSK, vốn là một thành viên đảng Xã hội Pháp và một đại gia vương giả, nhiều tì tích xâm phạp tiết hạnh nữ giới trong quá khứ công, cũng như tư. Chủ đích của Hoa Kỳ có lẽ vẫn là gạt bỏ tai ương DSK và dằn mặt IMF bớt cái tham vọng ngông cuồng bá chủ tiền tệ quốc tế.

6. Để Tạm Kết: Tương Lai Bá Chủ Tiền Tệ
Đến giờ phút này Đồng Mỹ kim vẫn vứng vàng dẫn đầu [gần 70% tổng số dự trữ] trong canh bạc đầu tư hay liên kết tiền tệ mậu dịch quốc tế trên vì thực sự chưa thấy có “đấu thủ” nào đủ tầm vóc cạnh tranh đồng Mỹ kim.
Tuy nhiên nếu đồng Mỹ kim muốn củng cố và duy trì vị thế “bá chủ tiền tệ” trên thế giới trong vài thập niên tới, Hoa Kỳ phải tìm cách nhanh chóng giảm thiểu khoản nợ toàn quốc kếch sù, nay lên tới hơn 14 ngàn tỷ Mỹ kim [14 trillion US dollars], trong đó có hơn một ngàn tỷ Mỹ kim [ 1trillion] nợ Trung Quốc, và tạo dựng lại một nền kinh tế thịnh vượng tự duy, phát động sinh khí và năng lực sáng tạo mới mẻ, trong sáng, khả tín.
Bằng không, nội giữa thế kỷ 21, thế giới sẽ khai phát một hiện tượng tam đầu chế [triumvirate][13] hay “tam đa” [The three extremes], với thế lực kinh tế tài chính phân thành ba “đầu nậu” ngang ngửa 33% mỗi vai vế: Hoa Kỳ, Châu Âu và Trung Quốc.
Canh bạc kinh tế tài chính lúc đó thêm gian lận và nặng mùi vị “xập xám chướng” ma phiệt. “Faites vos jeux. Rien ne va plus”.[14] Mời Quý vị đặt tiền. Không còn xoá bài đánh lại được nữa. Được hoặc thua hết vốn thế thôi.
Cuối cùng còn lại trò chơi Ru-lét Nga [15] – viên đạn chót cho định mệnh đỏ đen.

TS.LS. Lưu Nguyễn Đạt
© www.Vietthuc.org
CHÚ THÍCH
[1] “Bretton Woods Agreement”, Addison Wiggin, The Daily Reckoning, November 29th, 2006; “Bretton Woods Convention Reorganizes World Economy”, The Econ Review, Benjamin J. Cohen, “Bretton Woods System”
[2] Fiat money is money that has value only because of government regulation or law. The term derives from the Latin fiat, meaning “let it be done”, as such money is established by government decree. Xin tham khảo: HOW THE FIAT MONEY IS BEING DEFENDED, 2003 J. N. Tlaga; The Nixon Shock Heard ‘Round the World Lewis E. Lehrman – The Wall Street Journal, Monday, August 15, 2011
[3] https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/us.html — CIA World Factbook, the 2010 debt-to-GDP ratio in the US was 53.5%. Trong khi IMF lại đưa ra tỷ lệ 92.7%, như trong bản so sánh dưới đây.
Trung Quốc chỉ công bố số nợ công là 19.12% GDP, bằng một phần mười [10%] số nợ thực sự là gần 200% GDP. Như vậy, trên thực tế, Trung Quốc nợ gấp đôi Hoa Kỳ [96% GDP-2011] và gần bằng Nhật Bản [225% GDP-2010]. Xem bản so sánh dưới đây:
Rank Country % of GDP
(CIA and Eurostat)
Date % of GDP (IMF) Date Continent
1 Japan 225.8 2010 est. 225.8 2010 Asia
37 United States 58.9 2010 est. 92.7 2010 North America
111 China 17.5 2010 est. 19.1 2010 Asia

[4] “America’s Petrodollar System: A Timeline of the Rise and Fall of the U.S. Dollar”, Jerry RobinsonFTMDaily.com on May 17, 2011
[5] OPEC /Organization of Petroleum Exporting Countries/ là Tổ chức thành lập năm 1960 của các quốc sản xuất dầu cặn để đồng thuận định giá dầu cặn căn cứ vào quyết định cung cấp số lượng cần thiết liên hệ [giảm mức sản xuất cho khan hiếm để tăng giá; cung cấp đủ để giữ hay hạ giá]. Những quốc gia thành viên của OPEC gồm có Algeria, Angola, Ecuador, Indonesia, Iran, Iraq, Kuwait, Libya, Nigeria, Qatar, Saudi Arabia, United Arab Emirates, Venezuela
[6] What does deregulation of Chinese Yuan mean? DEEPAK in deregulation,USA,china,yuan, inflation,what is inflation,effects of inflation,learning to live with inflation
[7] Dollar Hegemony and the Rise of China, Michael Hudson
[8] “Petrodollar Warfare: Dollars, Euros and the Upcoming Iranian Oil Bourse”, William Clark, Media Monitors Network, Archived Aug 8 2005
[9] “Libya Attacked Over Gaddafi’s Gold Dinar”, GeoffTalk

[10] “Russia to trade oil in rubles – a new threat to the dollar”, ATS, 5.206; China-Russia currency agreement further threatens U.S. dollar”, International Business Times, Nov. 24, 2010.

[11] Network Externalities, Competition, and Compatibility, Katz, Michael LShapiro, Carl
[12] “Can Europe Be Saved?Time is running out to rescue the economies of Portugal, Ireland, Italy, Greece, and Spain”.Nouriel Roubini and Stephen Mihm, Slate, May 16, 2011.
[13] “Economic Triumvirate”, Robert J. Samuelson, The Daily Beast, Dec 19, 2008
[14] “Faites vos jeux. Rien ne va plus” là câu mời mọc đánh bài, bỏ tiền đỏ đen… tại các sòng bài [Casino] bên Pháp, Monaco.
[15] Roulette russe /un jeu de hasard potentiellement létal/ là một thách đố [xuất xứ từ bên Nga?] dùng súng lục quay /rouleau/ 6 viên, nạp một viên đạn, bỏ 5 chỗ không có đạn, quay ổ đạn, kề nòng súng vào thái dương, rồi bóp cò. May thì sống. Rủi thì tự sát. Trò chơi Roulette russe là một thách đố nghiệt ngã, tuyệt vọng, vì tiền, tình, thế lực, bất cần đời. Một canh bạc tự sát.

Sunday, October 30, 2011

* Bạo Chúa Tần Thủy Hoàng

Trúc Giang


Tần Thủy Hoàng nổi tiếng là một bạo chúa trong lịch sử Trung Quốc, qua những hành động tàn bạo như đốt sách, chôn học trò, giết hàng triệu người trong việc xây Lăng mộ và Vạn Lý Trường Thành, gây chiến tranh tóm thu lục quốc.
Chung quanh Tần Thuỷ Hoàng còn có những nhân vật đặc biệt nổi tiếng như Lã Bất Vi, Kinh Kha và Lao Ái.
Cũng có câu chuyện thương tâm, bi thảm do Tần Thủy Hoàng gây ra như chuyện "Nàng Mạnh Khương Khóc Trường Thành".
Tần Thủy Hoàng muốn trường sanh bất tử, sai nhiều người đi tìm thuốc sống lâu, nhưng tiếc thay, bạo chúa chỉ sống có 49 năm.

1* Mưu buôn ngôi báu

Tần Thủy Hoàng (259 TCN – 210 TCN) tên húy là Doanh Chính, lên ngôi năm 13 tuổi. Là một bạo chúa vì chính sách cai trị độc ác, tàn bạo. Thủy hoàng có nghĩa là vua nguyên thủy, đầu tiên. Kế đến, đời con là Nhị Thế hoàng, rồi Tam Thế hoàng...và Vạn Thế hoàng.

Có thuyết cho rằng Tần Thủy Hoàng là con của Lã Bất Vi, một thương nhân, sau trở thành một tướng quốc nhà Tần.
Bắt đầu bằng việc hoàng tử Tử Sở của nước Tần bị bắt làm con tin ở nước Triệu. Tử Sở quen biết với một thương gia giàu có là Lã Bất Vi. Ông nầy buôn bán rất thành công, nhất là việc buôn quan bán tước bằng hối lộ.
Lã Bất Vi có nói chuyện về so sánh lợi nhuận với người cha, cũng là một thương buôn.
- Cày ruộng lợi gấp mấy? - Lợi gấp mười.
- Buôn châu ngọc lợi gấp mấy? - Lợi gấp trăm.
- Nếu giúp cho một người được lên làm vua thống trị sơn hà thì lợi gấp mấy?
Đó là mưu đồ được tiến hành từ hoàng tử Tử Sở đang bị làm con tin ở nước Triệu.
Bắt đầu kế hoạch, Lã Bất Vi đưa cho Tử Sở 500 cân vàng để tiêu dùng và tiếp đãi tân khách. Danh tiếng Tử Sở từ đó lên cao.
Lã Bất Vi có người thiếp rất xinh đẹp, đàn hay, múa giỏi lại đang mang thai, tên là Triệu Cơ. Lã Bất Vi mời Tử Sở đến nhà và cho Triệu Cơ ra hầu rượu. Tử Sở liền đem lòng say mê và Lã Bất Vi (LBV) liền dâng Triệu Cơ cho Tử Sở làm phu nhân. Hành động nầy nằm trong kế hoạch buôn ngôi báu của LBV.
Triệu Cơ sinh con trai, đó là Doanh Chính sau nầy là Tần Thủy Hoàng.
Tình hình căng thẳng giữa Tần và Triệu, vua Triệu bắt Tử Sở định giết, nhờ Lã Bất Vi đưa 600 cân vàng cho kẻ giữ ngục để Tử Sở trốn thoát. Lúc đó, Triệu Cơ và Doanh Chính còn ở lại nước Triệu.
Lã Bất Vi đã thực hiện nhiều âm mưu, tính toán để dọn đường, và sau cùng Tử Sở được lên ngôi, là Trang Tương Vương của nhà Tần. Và LBV được phong làm Thừa tướng, ăn thuế 10 vạn hộ ở Hà Nam, Lạc Dương.
Tử Sở làm vua được 3 năm thì mất. Thái tử Doanh Chính lên ngôi năm 13 tuổi, tức là Tần Thủy Hoàng. Lã Bất Vi được phong làm tướng quốc, gọi là trọng phụ.

2* Lao Ái thông dâm với Thái Hậu

Vua Tần nhỏ tuổi, Thái hậu thường lén lút thông dâm với Lã Bất Vi.

Trong nhà Lã Bất Vi có đến vạn người, đua nhau quý trọng kẻ sĩ so với Mạnh Thường Quân ở nước Tề.

Bất Vi bèn sai kẻ sĩ đang làm khách trong nhà, mỗi người viết ra những điều hiểu biết của minh, góp lại thành Tám Lãm, sáu Luận, mười Kỹ, cho rằng đủ hết mọi việc trong trời đất, muôn vật, muôn loài xưa và nay.
Đặt tên sách là Lã Thị Xuân Thu, bày ở cửa chợ Hàm Dương, đặt 1,000 lạng vàng lên trên, mời các du sĩ khắp nơi, ai có thể thêm hoặc bớt một chữ nào, thì xin biếu 1,000 lạng vàng.
Khi Tần vương đã lớn mà Thái hậu cứ đòi dâm loạn mãi, Lã Bất Vi sợ bị lộ, mang hoạ vào thân, bèn ngầm tìm một người có dương vật lớn tên Lao Ái, vào làm người nhà. Lã Bất Vi sai Lao Ái làm trò vui để phô trương dương vật, là lấy dương vật tra vào bánh xe bằng gổ đồng mà đi. Quả nhiên, Thái hậu Triệu Cơ nghe biết, muốn được Lao Ái làm riêng của mình. Lã Bất Vi và Thái hậu thực hiện mọi việc để cho Lao Ái vào phục vụ Thái hậu Triệu Cơ với chức Cấp Sự Trung.
Thái hậu cùng y gian dâm, sinh được 2 con, đem dấu đi.
Đồng thời còn lập mưu chờ cho Tần Thủy Hoàng chết thì đưa con lên làm vua.
Nhà Lao Ái tôi tớ tới vài ngàn người, khách đến cầu quan, cầu được làm môn hạ cho y cũng tới hơn ngàn.
Năm thứ 9 đời Tần Thủy Hoàng, có người phát giác Lao Ái không phải là hoạn quan mà còn thông dâm với Thái hậu sinh ra 2 con.
Tần Vương Chính giao cho pháp đình xét xử, biết rõ sự tình, tru di tam tộc nhà Lao Ái, giết chết 2 đứa con do Thái hậu sinh ra và đày Thái hậu sang đất Ung.
Nhà cửa các môn hạ Lao Ái bị tịch thu, người thì bị đày đi làm ruông..
Lã Bất Vi sau đó bị cách chức và bị ép phải uống thuốc độc tự tử.

3* Tần Thủy Hoàng tóm thâu lục quốc

Khi Vương Chính lên ngôi, nước Tần lớn mạnh, có ưu thế áp đảo hơn 6 nước chư hầu còn lại là Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, nhà Chu và Tề.
Áp dụng mưu kế "Thân xa, đánh gần", giao hảo với nước Tề ở xa và tấn chiếm các nước chung quanh. Những tướng tài như Vương Tiễn (Cha), Vương Bí (Con), Mộng Ngao, Mộng Vũ, Phàn Ô Kỳ...Chiến tranh liên tục xảy ra cho đến khi Tần Thủy hoàng tóm thu được 6 nước, thống nhất Trung Hoa.

4* Cải tạo công thương nghiệp

Trong "Sĩ, nông, công, thương", Tần Thủy Hoàng khuyến khích "binh", "nông", ghét "công", "thương". Muốn nắm hết các nguồn lợi về thương nghiệp. Những phú thương có xưởng sản xuất sắt thép ở Thiểm Tây và Tứ Xuyên đều bị bắt giam tới 200,000 gia đình, kể cả tiểu thương, tịch thu tài sản và đày ra xứ Thục làm ruộng.
Có lẻ Tần Thủy Hoàng là ông tổ của cuộc Cải Tạo công thương nghiệp ở VN sau thời 75.

5* Đốt sách chôn học trò

Câu "Đốt sách chôn học trò" đã trở thành một thành ngữ trong văn học dân gian của nước Tàu và cả ở VN.
Sau khi tóm thu lục quốc, Tần Thủy hoàng áp dụng chính sách cai trị rất khắc nghiệt, tàn bạo cho nên, trong dân gian nổi lên những tư tưởng phê bình chỉ trích và chống đối, nhất là những nhà nho, những người có đọc sách thánnh hiền.
Thừa tướng Lý Tư đề nghị dập tắt tự do tư tưởng và ngôn luận, thống nhất ý kiến, diệt trừ những dị nghị,những bình luận chê bai, làm giảm uy tín của nhà vua. Mục đích muốn biến dân thành dễ bảo, có kỷ luật.
Lý Tư đề nghị đốt tất cả những thi thơ, sách vở của đạo Nho như Tứ Thư, Ngũ Kinh và sách của Bách gia chư tử.
Tần Thủy Hoàng có ác cảm với nho sĩ đã mở trường dạy đạo lý thánh hiền, chỉ trích chiến tranh, phổ biến những tư tưởng dân chủ như "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh". Tự do tư tưởng và tự do ngôn luận là tội nặng nhất, phải bị giết. Sách Tứ Thư, Ngũ Kinh bị xem là "Văn hoá đồi trụy và phản động", phải đem đốt hết.
Nhiều người phải dấu sách vào tường hoặc cố học thuộc lòng để sau nầy dạy dỗ con cháu.
Những ai muốn, thì phải học quan lại của triều đình mà chỉ được học về luật pháp của nhà vua mà thôi.
Tần Thủy Hoàng phát hiện ở Hàm Dương có một nhóm nho sĩ đã từng bình phẩm về mình, bèn ra lịnh bắt giam thẩm vấn.
Các nho sinh không chịu nổi các đòn tra khảo cho nên khai ra một loạt những người khác. Tần Thủy Hoàng ra lịnh đem chôn tất cả gồm 460 người.
Sau đó, số nho sinh bị bắt giữ ngày một đông và tất cả bị đày ra biên giới.
Sau khi nhà Tần bị tiêu diệt ở 50 năm sau, thời nhà Hán, lịnh cấm đó được bãi bỏ và trong nước không còn ai nhớ rõ Tứ Thư, Ngũ Kinh cả. Nhà thơ Đường Chương Kiệt đã viết một bài thơ có câu:
"Khanh hôi vị lãnh Sơn Đông loạn
Lưu, Hạng nguyên lai bất độc thư"
Nghĩa là:
Trước khi hầm tro lạnh, Sơn Đông đã nổi loạn
Lưu Bang, Hạng Võ đều không biết đọc sách.
Dân Tàu thời Tần Thủy Hoàng đa số thất học, không biết chữ.

6* Lăng mộ Tần Thủy Hoàng

Lăng mộ Tần Thủy Hoàng nằm ở phía Bắc núi Ly Sơn, tỉnh Thiểm Tây, Trung Hoa.Trên mộ, phủ lên một lớp đất cao 76 mét. Từ Bắc đến Nam dài 350 mét, Đông sang Tây 354 mét. Chung quanh Lăng mộ có 2 lớp tường thành bên ngoài là 2 Km2, có cửa.
Giữa 2 lớp thành có các giác lâu, cung tẩm, chùa chiền và nhà ở.
Bên dưới mặt đất là địa cung hình chữ nhật, dài 400 mét, rộng 392 mét. Bốn phía có tường bao bọc. Tường cao 27 mét, dầy 4 mét. Bốn phía đều có cửa. Tổng diện tích là 18 vạn mét vuông.
Từ trên xuống dưới có 3 tầng. Trên hết là Ngoại cung, kế đó là Nội cung và dưới cùng là Tẩm cung. Diện tích Tẩm cung khoảng 2 vạn mét vuông. Trong Tẩm cung, nồng độ thủy ngân cao hơn bình thường là 280 lần. Thủy ngân ở thể lỏng, bền, không tan, làm nước cho những con sông được lâu bền.
Ngoài Địa cung có 300 đường hầm chứa "Bồi táng" là những vật được chôn kèm theo với xác người chết, có tới 5 vạn cổ vật quan trọng.
Sử gia đời Hán là Tư Mã Thiên thuật lại việc xây mộ Tần Thủy Hoàng như sau:
" Khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi đã sai đào núi Ly Sơn, đến khi tóm thu được thiên hạ thì đem 70 vạn người (700,000) trong thiên hạ đến xây Lăng mộ. Đào 3 con suối. Đem những vật quý báu của các cung, của trăm quan xuống cất đầy dưới mộ. Lại sai thợ làm máy bắn tên, hễ có ai đào đến gần thì bắn ra. Sai lấy thủy ngân làm 100 con sông : Trường Giang, Hoàng Hà, Biển lớn. Các máy móc làm cho nước sông và nước biển chảy vào nhau. Trên có thiên văn, dưới có địa lý. Lấy đầu cá nhân ngư để thắp đuốc, trù tính thế nào cho cháy lâu không tắt.”
Sau khi chôn Tần Thủy Hoàng, những người thợ làm máy móc và cất dấu báu vật đều bị giết chết tất cả. Con trai Tần Thủy Hoàng sai trồng cây và trồng cỏ lên trên đễ nguỵ trang thành một cái núi.
*Khai quật Lăng mộ Tần Thủy Hoàng
Năm 1974, một phần hầm mộ được khai quật. Đầu tiên là "Đường binh mã dũng số 1". Các nhà khảo cổ ước lượng có 8,000 tượng đất sét bao gồm các quan văn, võ, binh lính và ngựa.
Năm 1994, tiếp tục khai quật đường số 2. Chứa đựng trận thế kỵ binh, và binh lính bắn tên, với các tư thế tạo hình phong phú, kỹ thuật cao.
Cuộc khai quật gặp nhiều khó khăn, ước đoán phải tốn hàng trăm triệu đôla Mỹ. Đó là phải vượt qua lớp thủy ngân bao bọc, nồng độ rất cao. Phải chuyển một khối đất khổng lồ, mực nước ngầm dưới lòng đất khá cao. Các tượng binh mã được đào lên phải được bảo quản thật kỹ để không phai màu, tránh vở và nứt. Những đồ vật phát hiện rất có giá trị về lịch sử trung Hoa cổ đại.

7* Vạn Lý Trường Thành

Vạn Lý Trường Thành là một bức tường thành nổi tiếng của Trung Hoa, được liên tục xây dựng bằng đất và đá từ thế kỷ thứ 5 TCN cho đến thế kỷ 16, để bảo vệ Đế quốc Trung Hoa khói những cuộc tấn công của người Mông Cổ, Người Thổ Nhỉ Kỳ và những bộ tộc du mục khác ở phía Bắc, từ Mông Cổ và Mãn Châu.
Một số đoạn của bức tường thành được xây dựng từ thế kỷ thứ 5 TCN, trong đó nổi tiếng nhất là đoạn tường do Tần Thuỷ Hoàng ra lịnh cho xây dựng từ năm 220 TCN đến năm 200 TCN (20 năm).
Bức từng thành dài 6,352 Km (3,948 dặm Anh)
Tường thành có 5 đoạn chính:
1. 208 TCN (Nhà Tần)
2. Thế kỷ thứ 1 (Nhà Hán)
3. Thế kỷ thứ 7 (Nhà Tùy)
4. Từ 1,138 đến 1,198 (Nhà Nam Tống)
5. Từ 1,368 đến 1,640 (Từ vua Hồng Vũ đến vua Vạn Lịch, nhà Minh)
Vạn Lý Trường Thành ngày nay cho du khách đến xem là được xây dựng từ thời Nhà Minh (1,368 đến 1,640).
Về mặt quân sự thì bức tuờng chỉ có giá trị về việc phân ranh giới, chớ không có giá trị về phòng thủ. Bằng chứng là quân Mông Cổ vây thành Tương Dương, mặc dù có đại hiệp Quách Tĩnh và Hoàng Dung và cả Dương Hoá ra sức bảo vệ mà cũng không giữ được thành. Cuối cùng Mông Cổ vào chiếm Trung Nguyên lập ra nhà Nguyên.
Sau đó, đến năm 1644, người Mãn Thanh đã vượt tường thành bằng cách mua chuộc viên quan trấn thủ là Ngô Tam Quế, mở của cổng Sơn Hải Quan vào chiếm Trung Nguyên lập nên nhà Thanh.
Cho dù Ngô Tam Quế không mở cửa thành, thì quân Mãn Thanh cũng phá tường bằng đất nện mà vào, bởi vì, lúc đó, Lý Tự Thành nổi loạn và đã chiếm Bắc Kinh. Khi Lý Tự Thành lên làm vua, thì Ngô Tam Quế dâng người thiếp xinh đẹp của mình là Trần Viên Viên cho Lý Tự Thành.(Có tài liệu nói Lý Tự Thành cướp Trần Viên Viên)
Lý Tự Thành gốc thổ phỉ cho nên quân Mãn Thanh chỉ đánh trong vòng 40 ngày thì dẹp tan triều đình Đại Thuận của Lý Tự Thành.
Trở lại việc Tần Thủy Hoàng xây Vạn Lý Trường Thành. Tần Thủy Hoàng sai tướng Mông Điềm triệu tập nam đinh trong nước, ban đầu xây những tuyến phòng thủ ở những nơi hiểm yếu trên biên giới. Sau đó, nối những phần tường rời rạc lại với nhau. Tường thành dài hơn vạn dặm.
Một nhà sử học Tây phương cho biết, đã có 3,500,000 người bị trưng dụng vào việc xây tường. Và số người chết lên tới hơn một triệu vì kiệt sức, đói khát và bịnh tật.
Nó được đặt cho cái tên là "Nghĩa địa dài nhất trên trái đất".

8* Chuyện Mạnh Khương Nữ Khóc Trường Thành

“Mạnh Khương Nữ Khóc Trường Thành” là một câu chuyện trong dân gian. Chuyện kể rằng:
Vào thời Tần Thủy Hoàng, ngay trong đêm tân hôn, chồng của Mạnh Khương là một thư sinh Giang Nam tên là Phạm Hỷ Lương bị triều đình bắt đi xây Vạn Lý Trường Thành.
Đến mùa đông, Mạnh Khương đan áo cho chồng và lặn lội ngàn dặm tìm chồng trao áo. Mạnh Khương đã đi suốt chiều dài của tường thành cuối cùng biết được chồng đã chết và bị vùi thây dưới tường thành.
Nàng Mạnh Khương quá đau buồn, khóc lóc thảm thiết suốt 3 ngày 3 đêm, máu hoà nước mắt.Tiếng khóc thê lương vang xa 800 dặm, làm đổ một khúc tường, để lộ ra xác chết của chồng.
Mạnh Khương an táng chồng rồi nhảy xuống sông tự tử.
Ngày nay, tại quận Sơn Hải Quan thuộc tỉnh Hà Bắc có miếu thờ Mạnh Khương.
Là một chuyện bi thảm trong hàng triệu nổi đau của người dân, nạn nhân của một chế độ độc tài tàn bạo, coi mạng người như cỏ rác, của những con người vô cảm, mất cả nhân tính, mà lại nhân danh con người để tiêu diệt loài người.
Người không có tình người, dù đặt giữa quảng trường, cao cách mấy cũng thua loài bò sát. (Có máu lạnh). Không phải chỉ có ở thời cổ xưa, mà trong thế kỷ 20 cũng còn có xảy ra rất nhiều.

9* Kinh Kha thích sát vua Tần

Thái Tử Đan nước Yên chiêu mộ hiền tài, tuyển chọn nhân sĩ, trong kế hoạch để bảo vệ đất nước trước ý đồ xâm chiếm lục quốc của Tần Thủy Hoàng.
Kinh Kha và Phàn Ô Kỳ là những du khách của Thái Tử Đan.
Kinh Kha là người nước Vệ, vì không được trọng dụng cho nên chu du khắp nơi và cuối cùng đến nước Yên, kết bạn với Cao Tiệm Ly, một nghệ sĩ khải đàn và một người bán thịt chó. Họ cùng nhau uống rượu và ca hát suốt ngày.
Phàn Ô Kỳ trước kia là viên tướng của Tần Thủy Hoàng, biết rằng Thủy Hoàng là con của Lã Bất Vi, không phải dòng dỏi họ vua, cho nên nổi loạn, lập một hoàng tử lên ngôi. Tần Thủy Hoàng sai viên tướng là Vương Tiễn dẹp loạn. Phàn Ô Kỳ bị bại và chạy sang nước Yên làm khách của Thái Tử Đan.
Thái Tử Đan và Kinh Kha thiết lập kế hoạch hành thích vua Tần. Theo dự tính, Kinh Kha và Tần Vũ Vương, 13 tuổi, mang tấm bản đồ quân sự của nước Yên sang dâng cho vua Tần. Lợi dụng sự tiếp cận mà ra tay hành thích.
Phàn Ô Kỳ tự hiến đầu mình để Kinh Kha tạo thêm niềm tin khi mang đầu dâng lên cho vua Tần.
Buổi tiễn đưa Kinh Kha lên đường thi hành sứ mạng trên bờ Sông Dịch thật là vô cùng cảm động. Kinh Kha đã hứng tác 2 câu thơ:
Phong tiêu tiêu hề, Dịch Thủy hàn
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn
Dịch
Gió hiu hắt, Dịch thủy lạnh ghê
Tráng sĩ ra đi chừ, không bao giờ về.
Hoặc
Gió đìu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê
Tráng sĩ một đi không trở về.
Đúng là một sứ mạng hiểm nguy, một đi không trở lại. Cho dù thành công hay thất bại, thì Kinh Kha cũng chỉ có một con đường chết mà thôi.
Người chiến sĩ ra trận "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi" còn có hy vọng ngày về, trái lại, Kinh Kha thì không.
Khi hai người tiến đến gần, mang thủ cấp Phàn Ô Kỳ và tấm bản đồ, thì Tần Vũ Vương quá hoảng sợ, biến sắc mặt và mất bình tĩnh. Kinh Kha mở tấm bản đồ trong đó có dấu con dao ngắn vô cùng sắc bén tiến đến đâm Tần Thủy Hoàng. Vua Tần tránh khỏi và chạy ra xa. Kinh Kha phóng con dao, nhưng lại không trúng và quân lính đến giết Kinh Kha.
Sau vụ hành thích, Tần Thủy Hoàng đem quân sang đánh nước Yên. Vua Yên yếu thế, bèn cắt đầu Thái Tử Đan dâng lên tạ tội và xin cầu hoà. Nhưng sau đó, quân Tần lại đánh chiếm, bắt giết vua Yên. Và từ đó, nước Yên bị diệt vong vào năm 222 TCN.

10* Cao Tiệm Ly thích sát vua Tần

Cao Tiệm Ly, người nước Yên, một nghệ sĩ có tài khải đàn và là bạn thân của Kinh Kha. Sau khi Kinh Kha bị giết, Tần Vương ra lịnh truy nả các bạn bè, nên Cao Tiệm Ly phải thay tên đổi họ, trốn sang một tiệm rượu, khải đàn cho khách nghe.
Khi đã nổi tiếng, Cao Tiệm Ly công khai danh tánh vì muốn ám sát Tần Vương, trả thù cho Kinh Kha.
Tần Thủy Hoàng biết được, cho bắt Cao Tiệm Ly, nhưng tiếc tài khải đàn nên không giết mà sai chọc mù hai mắt để Tiệm Ly khải đàn cho vua nghe. Tần vương thích nhạc, nên càng ngày càng xích đến gần. Cao Tiệm Ly đổ chì vào bầu đàn cho nặng, làm vũ khí đập vào đầu Tần Vương. Nhưng vì bị mù, cho nên đập không trúng và bị giết.

11* Ngày tàn của bạo chúa

Tần Thủy Hoàng muốn trường sanh bất lão, nghe lời Hầu Sinh và Lư Sinh muốn tu tiên, tự xưng là Chân Nhân. Lại nghe lời Từ Phúc nói rằng có thể tìm thuốc trường sinh.
Tần Vương cấp tiền bạc cho Từ Phúc ra biển đi tìm thuốc, nhưng Từ Phúc đi mấy năm mà không trở về. Lư Sinh và Hầu Sinh cũng bỏ trốn vì không chịu nổi sự hà khắc của Tần vương.
Năm 210 Trước Công Nguyên, Tần Thủy Hoàng đi kinh lý phía Đông và bị bịnh chết trên đường về tại Bình Đài, rất xa kinh đô.
Thừa tướng Lý Tư dấu kín chuyện vua chết, sợ có loạn do các hoàng tử tranh nhau ngôi báu và cũng sợ dân chúng nổi loạn. Do đó, trên đường về, sai một thái giám ngồi cạnh quan tài, đến giờ ăn cũng dâng cơm cho vua. Bá quan địa phương trình tấu, thì thái giám chỉ nói "Được" mà thôi.
Gặp lúc trời nắng, quan tài bốc mùi hôi thúi. lại sai mang mấy thùng cá muối theo xe để đánh lẫn mùi hôi thúi.
Thừa tướng Lý Tư làm di chiếu giả, cho con thứ lên làm vua và buộc thái tử mà Tần Thủy Hoàng di chiếu truyền ngôi, phải tự tử.
Cuối cùng, cái chết của một bạo chúa bốc lên một mùi hôi thúi vô cùng, ngàn năm lưu xú diệt lưu phương. Thọ 49 tuổi.
Tần Thủy Hoàng dùng bạo lực để cai trị dân, khi suy yếu hoặc bạo lực không còn thì bị hủy diệt.
Mao Trạch Đông hết sức ca ngợi và tự nhận là một Tần Thhủy Hoàng thứ hai của Trung Quốc.
Mao cũng đốt sách trong Cách Mạng Văn Hoá và chế độ Mao không chôn chôn học trò mà chỉ dùng xe tăng cán nát sinh viên ở quảng trường Thiên An Môn. Cách giết người của Chủ Nghĩa Cộng Sản hiện đại hơn, quy mô hơn của Tần Thuỷ Hoàng cổ đại.
Tần Thủy Hoàng, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân và đám bộ hạ tay sai ở các nước CS chư hầu giống nhau ở chỗ tàn bạo và vô nhân đạo là giết chết chính đồng bào của mình.
Những bạo chúa cho dù có đem vô chùa, đặt trên bệ cao, cũng chỉ lưu lại mùi thúi của cá chết mà thôi.