Tuesday, November 15, 2011

* Nhượng Tống (1897-1949): ‘Anh ngã, mình sa giữa lưới ngờ!...’

Viên Linh

Vũ trụ tan trong mắt lệ mờ!
Lao đao ngồi tựa gốc cây xưa,

Thi sĩ bị ám sát Nhượng Tống (1897-1949). (Hình: Hoàng Văn Ðào)



Như trong mây khói, như trong mộng,
Anh ngã, mình sa giữa lưới ngờ!
*Nhượng Tống, Xuân Biệt, Hà Nội Tân Văn, 26.3.1940.

-”1949, Nhượng Tống đã bị ám sát tại phố Chợ Hôm, Hà Nội. Quốc gia mất đi một chiến sĩ cách mạng chân chính, một văn thi sĩ lỗi lạc tài ba.” (Hoàng Văn Ðào (1957) Từ Yên Bái đến các ngục thất Hỏa Lò, Côn Nôn, Guyan Sống Mới, Sài Gòn.)
-”Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân là sáng lập viên của Việt Nam Quốc Dân Ðảng,... bị thanh toán bằng một viên đạn súng Colt ở Chợ Hôm, Hà Nội năm 1949.” (Phan Lạc Phúc (1968) Chiêu niệm Nhượng Tống, Tiền Tuyến, Sài Gòn.)
-”Ông là một nhà văn tài hoa, lãng mạn và rất sở trường về dịch thuật... Ông dịch rất tài tình.” (Vũ Ngọc Phan (1940) Nhà Văn Hiện Ðại, V, trang 1193)
Lịch sử văn học Việt Nam luôn luôn chồng chéo với các biến động của lịch sử dân tộc. Nhà văn nhà thơ một thời cũng là những sĩ phu, hay đúng ra, từ suốt ngàn năm thuộc Tàu và non trăm năm thuộc Pháp, lúc nào ta cũng có những cây bút hào kiệt, những nhà thơ chính khí; mặc dầu bên dòng sông cuồn cuộn của nhân sinh, giới cầm bút cũng thiếu gì những eo xèo của thế sự, những tầm tầm của ái ố tróc phọc? Từ Ðông Kinh Nghĩa Thục tới trước Thế Chiến Thứ Hai, giữa ảnh hưởng của thuyết Tam Dân và các phong trào Bài Thực, bên cạnh các chủ nghĩa lãng mạn, tả thực, Thơ Việt vẫn rực sáng với những Chiêu Hồn Nước của Phạm Tất Ðắc, Hai Chữ Nước Nhà của Trần Tuấn Khải, Thề Non Nước của Tản Ðà hay Cảm Ðề Lịch Sử của Nhượng Tống:

Ba xứ non sông một giải liền,
Máu đào xương trắng điểm tô nên.
Cơ trời dù đổi trò tang hải,
Mặt đất chưa tàn nghiệp tổ tiên.
Có nước có dân đừng rẻ rúng;
Muốn còn muốn sống phải đua chen.
Giựt mình nhớ chuyện nghìn năm cũ;
Chiêm , Lạp xưa kia vốn chẳng hèn.
(Khóc Nguyễn Thái Học)
Nhục mấy trùng cao, ách mấy trùng.
Thương đời không lẽ đứng mà trông.
Quyết quăng nghiên bút xoay gươm súng,
Ðâu chịu râu mày thẹn núi sông.
Người dẫu chết đi, lòng vẫn sống,
Việc dù hỏng nữa, tội là công.
Nhớ anh nhớ lúc khi lâm biệt;
Cười khóc canh khuya chén rượu nồng.
(Nhượng Tống)

Thi sĩ Nhượng Tống tên thật là Hoàng Phạm Trân (1897-1949), sinh tại làng Phú Khê, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Ðịnh, xuất thân từ một gia đình Nho giáo, tinh thông Hán học, là dịch giả nổi tiếng các tác phẩm văn học Trung Quốc: Tây Sương Ký (1942), Ly Tao (1943), Thơ Ðỗ Phủ (1944), Nam Hoa Kinh, Ðạo Ðức Kinh, Hồng Lâu Mộng, Sử Ký Tư Mã Thiên (1945)... Ông viết cho nhiều báo: Khai Hóa (1921) và các báo tranh đấu trong thời gian 1929-1930 như: Nam Thành, Hà Nội Tân Văn, Thực Nghiệp Dân Báo...
Năm 1925 cùng nhà giáo Phạm Tuấn Tài thành lập Nam Ðồng Thư Xã dịch nhiều sách của Lương Khải Siêu, Tôn Văn, (Hồn Cách Mạng, Tam Dân chủ nghĩa), hai năm sau, ngày 25 tháng 12, 1927, cùng sinh viên Sư Phạm Nguyễn Thái Học (1907-1930), Phó Ðức Chính (1907-1930), Ðoàn Trần Nghiệp (tức Ký Con) (1908-1930)... thành lập Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Chương trình hoạt động là công khai ủng hộ thợ thuyền trong các cuộc biểu tình và tổ chức các lớp dạy Quốc ngữ, liên kết với giới tư sản, sinh viên học sinh, và cả nông dân trong vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã; chẳng bao lâu thanh thế lên như sóng triều, nên bị thực dân Pháp và tay sai chú trọng diệt trừ.
Năm 1929, Nhượng Tống vào Huế gặp cụ Phan Bội Châu, khi trở ra Hà Nội bị thực dân Pháp bắt, đày đi Côn Ðảo 6 năm. Ra tù, bị quản thúc tại quê nhà, ông làm nghề thăm bệnh, bốc thuốc và người ta lại thấy tên ông xuất hiện trên làng văn làng báo. Năm 1940, ông xuất bản tiểu thuyết Lan Hữu, Nguyễn Thái Học (Hồi Ký 1945). Từ năm 1947, Nhượng Tống trở lại chính trường tại Hà Nội, nhưng sau đó vào năm 1949 lại sống lặng lẽ với của hàng thuốc Bắc. Sinh thời ông được xem là một thi sĩ tài hoa, một dịch giả có tài, (trong Lục Tài Tử của nền văn hóa Trung Quốc, ông đã dịch hết 5), mà thi sĩ Lưu Trọng Lư đã viết, “Lời tựa của Lý Trác Ngô có lẽ không nên có, cả lời phê Thánh Thán có lẽ cũng thừa... Duy có lời dịch của Nhượng Tống thực là nên có... (Ðọc Mái Tây).”
Tháng 11, 1949, tin Nhượng Tống bị ám sát chết khiến dư luận rúng động.
Nhà văn Nguyễn Thạch Kiên, một đảng viên Quốc Dân Ðảng, từng là tổng bí thư QDÐ Nam Cali, viết thuật lại như sau trong cuốn “Về những kỷ niệm quê hương:
“Nhượng Tống vẫn sống bằng nghề thầy lang và có cửa hiệu thuốc Bắc tại số 128 phố Chợ Hôm, Hà Nội. Ngày định mệnh xảy ra khi khoảng 8 giờ sáng, Nhượng Tống vừa chơi tổ tôm về, đã định đi nghỉ thì có một đứa trẻ đến xin đi thăm bệnh cho người bố. Ông cùng đứa trẻ đi bộ chỉ mới cách nhà hơn 300 thước thì có một người cỡi xe đạp lại gần, bắn qua gáy chết. Cũng Nguyễn Thạch Kiên viết thì các đảng viên QDÐ sẽ bị tử hình nếu cộng tác với Pháp, hay tay sai của Pháp, mà Nhượng Tống lại đã cộng tác với Tổng trấn Bắc Hà là ông Nghiêm Xuân Thiện, và do đó đã bị khai trừ khỏi đảng trong một phiên họp tại nhà ông Ngô Thúc Ðịch, bí thư trưởng, có mặt các đảng viên trong Thị Bộ Hà Nội. Từ đó, nội bộ Quốc Dân Ðảng trở nên mâu thuẫn, phân cực. Vẫn theo Nguyễn Thạch Kiên, mộ nhà thơ Nhượng Tống ở phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, vì ông là con nuôi một nhà họ Bùi ở phủ này.” (Nguyễn Tà Cúc (1996), Nhượng Tống, Khởi Hành số 1.)
Riêng tác giả Hoàng Văn Ðào, người gia nhập Quốc Dân Ðảng từ năm 1927, sáng lập chi bộ Thanh Hóa từ đó, và là tác giả cuốn “VNQDÐ - Lịch sử Ðấu tranh Cận đại,” thì thủ phạm hạ sát nhà thơ Nhượng Tống tên là Nguyễn Văn Kính, một tay sai của kẻ thù. Kính cùng Bùi Tiến Mai, Ðội Dương, Thị Nhu, Thị Uyển, tay sai của Pháp và cộng sản, được gài vào đảng để phá hoại. Kính lấy bí mật trong đảng cho mật thám Pháp, Mai đánh cắp danh sách các cấp lãnh đạo, Ðội Dương dắt mật thám vè bao vây làng Võng La khi các đảng viên cao cấp QDÐ đang họp, Thị Nhu, Thị Uyển theo dõi bá cáo tông tích của đảng trưởng Nguyễn Thái Học. Kính đã đền tội khi Ký Con, trưởng ban đặc vụ đã cho thi hành lệnh tổng bộ, bắn y chết tại Sở Thú Hà Nội.
Hơn 60 năm đã trôi qua, vụ ám sát tác giả bài thơ “Cảm Ðề Lịch Sử” vẫn còn là nghi án. Lịch sử ta có rất nhiều vụ ám sát thủ tiêu tương tự. Lạ thay đất nước đã gọi là hòa bình mà công lý thì chưa thấy làm sáng tỏ một vụ nào. Và cũng lạ thay, trong bài “Xuân Biệt,” Nhượng Tống đã làm một câu thơ tả người bị bắn ngã, (chỉ bằng mũi tên ẩn dụ của ái tình) mà giống như tình trạng cái chết của chính ông: “Anh ngã, mình sa giữa lưới ngờ!”


Tổng hợp từ:
Hoàng Văn Ðào (1957): Từ Yên Bái đến các ngục thất Hỏa Lò, Côn Nôn, Guyan;
Phạm Thanh (1959): Thi Nhân Việt Nam Hiện Ðại;
Trần Tuấn Kiệt (1967): Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại. Từ Ðiển Văn Học Việt Nam, Bộ Mới, 2000.
Tà Cúc (1996): Ai giết Nhượng Tống?

No comments:

Post a Comment